
Bạn gõ xong một email gửi đối tác nước ngoài, đọc lại lần cuối rồi bấm gửi: “Please send me some informations about the new supplier.” Vài phút sau, thư trả lời quay về với chữ information đã bị sửa lại, không có chữ “s” nào cả. Chuyện tương tự cũng hay xảy ra trong phòng họp, khi ta nói “I have many advices for this plan” và người nghe khựng lại một nhịp trước khi hiểu ra ý mình.
Lỗi này không đến từ vốn từ, bởi vì information hay advice đều là những từ chúng ta thuộc nằm lòng. Nó đến từ một nhóm từ có cách đếm khác hẳn tiếng Việt: danh từ không đếm được trong tiếng Anh. Tiếng Việt cho phép ta nói “nhiều thông tin”, “vài lời khuyên” một cách thoải mái, cho nên khi chuyển sang tiếng Anh, tay ta tự động thêm “s” theo thói quen cũ. Bốn câu dưới đây là bốn câu bạn sẽ trả lời được sau khi đọc: danh từ không đếm được là gì và gồm những nhóm nào, cấu trúc để nói số lượng, cách chia động từ đi kèm, và những chỗ người đi làm hay sai nhất. Nếu bạn đang dựng lại nền ngữ pháp từ đầu, đây là một mảnh trong lộ trình học của người mất gốc.
Danh từ không đếm được trong tiếng Anh là gì và gồm những nhóm nào
Danh từ không đếm được (tiếng Anh gọi là uncountable nouns) là những danh từ chỉ thứ mà người bản ngữ nhìn như một khối liền, không tách ra thành từng đơn vị riêng để đếm được. Vì nhìn như một khối, chúng không có dạng số nhiều, cho nên bạn không thêm “s” vào cuối và cũng không đặt a hay an đứng trước. Đây là chỗ khác biệt gốc rễ với tiếng Việt: ta đếm “hai lời khuyên” được, còn tiếng Anh thì không đếm thẳng advice.
Năm nhóm dưới đây gom gần hết những từ mà người đi làm gặp trong email và cuộc họp hằng ngày. Bạn đọc kỹ cột ví dụ, vì mỗi câu đều là câu dùng thật trong công việc chứ không phải từ đứng lẻ.
| Nhóm | Từ hay gặp | Câu dùng thật trong công việc |
|---|---|---|
| Chất liệu, thức ăn, đồ uống | water, coffee, rice, paper, wood, plastic | We need more paper for the printer before the audit. |
| Khái niệm trừu tượng | information, advice, knowledge, experience, work, help, progress | Thank you for the advice you gave me in yesterday’s meeting. |
| Hiện tượng tự nhiên | rain, snow, thunder, sunshine, air | Heavy rain delayed our shipment by two days. |
| Môn học và lĩnh vực | mathematics, physics, economics, music, history | Our new intern studied economics in Australia. |
| Danh từ gộp cả nhóm đồ vật | furniture, luggage, equipment, baggage, money, software | All the office furniture arrives on Friday morning. |
Bạn để ý nhóm cuối, vì nó là cái bẫy nặng nhất. Một cái bàn và một cái ghế rõ ràng là hai vật đếm được, nhưng tiếng Anh dùng furniture để gọi chung cả bộ, và từ gọi chung ấy lại không đếm được. Cũng vì vậy mà “two furnitures” là câu sai, dù trong đầu ta đang nghĩ tới hai món đồ có thật.
Cách nói số lượng cho danh từ không đếm được: a piece of, a cup of, some, much
Vì ta không đếm thẳng được, ta mượn một đơn vị đứng trước rồi đếm chính đơn vị ấy. Cách làm này gọi là lượng hóa, tức là nói rõ bao nhiêu bằng một vật chứa hoặc một đơn vị đo. Bảng dưới xếp theo đúng thứ tự bạn sẽ cần khi soạn email hay báo cáo.
| Cấu trúc | Dùng cho | Ví dụ | Chọn khi nào |
|---|---|---|---|
| a piece of / two pieces of | khái niệm trừu tượng, vật gộp nhóm | She gave me two useful pieces of advice. | Khi bạn cần nói rõ số lượng chính xác |
| a cup of / a glass of / a bottle of | đồ uống | I ordered a cup of coffee before the call. | Khi thứ đó được đựng trong vật chứa quen thuộc |
| a kilo of / a litre of / a bag of | chất liệu, thực phẩm | We bought five kilos of rice for the team lunch. | Khi bạn có đơn vị đo hoặc bao gói cụ thể |
| some | mọi nhóm, trong câu khẳng định và lời đề nghị | Could you send me some information about the supplier? | Khi số lượng không quan trọng, chỉ cần “một ít” |
| much / how much | mọi nhóm, trong câu phủ định và câu hỏi | How much luggage are you taking? | Khi bạn hỏi hoặc phủ định về lượng |
| a lot of / plenty of | mọi nhóm, giọng tự nhiên trong câu khẳng định | We have a lot of work to finish this quarter. | Khi nói lượng lớn mà không muốn nghe cứng như “much” |
| a little / little | mọi nhóm, nhấn vào lượng nhỏ | There is little time left before the deadline. | Khi bạn muốn nhấn còn ít hoặc gần như không còn |
Bảng này có hai chỗ ta nên nhớ. Thứ nhất, much nghe khá trang trọng nên trong câu khẳng định hằng ngày người bản ngữ thường thay bằng a lot of; bạn cứ giữ much cho câu hỏi và câu phủ định là an toàn. Thứ hai, cặp a little và little chênh nhau về sắc thái chứ không chênh về lượng, và cặp song song của chúng bên phía đếm được là a few với few. Bạn xem thêm cách phân biệt a few, few, a little và little nếu hay lưỡng lự ở bốn từ này.

Danh từ không đếm được đi với động từ chia số ít
Vì cả khối được nhìn như một thứ duy nhất, động từ theo sau luôn chia ở dạng số ít, và ta thay thế nó bằng đại từ it chứ không phải they. Quy tắc này giữ nguyên ngay cả khi nghĩa tiếng Việt nghe rất “nhiều”.
- Bạn viết This information is confidential, không viết These informations are confidential.
- Bạn viết All the furniture was delivered yesterday, không viết All the furnitures were delivered.
- Khi nhắc lại, bạn dùng it: The equipment arrived late, but it works well.
Khi bạn đã lượng hóa, tức là mượn một đơn vị đứng trước để nói rõ số lượng, thì động từ chia theo chính đơn vị đó chứ không chia theo danh từ phía sau. Vì vậy Two pieces of advice were really helpful là câu đúng, bởi chủ ngữ thật của câu là two pieces.
Những gì bạn vừa đọc nằm trọn trong một loại danh từ. Đến lúc soạn câu thật, bạn sẽ còn phải quyết định một việc khác nữa: từ đang cần dùng thuộc loại đếm được hay không đếm được, và câu trả lời cho từng từ cụ thể như coffee, furniture hay information nằm ở đâu. Bạn đọc bài phân biệt danh từ đếm được và không đếm được để có bảng đối chiếu song song hai loại cùng danh sách tra nhanh từng từ.
Ghi nhớ nhanh về danh từ không đếm được (uncountable nouns)
Nếu có người hỏi bạn danh từ không đếm được là gì, bạn trả lời gọn thế này: đó là những từ chỉ thứ được nhìn như một khối liền, nên chúng không có dạng số nhiều. Năm điều dưới đây là phần bạn cần mang theo khi soạn email.
- Danh từ không đếm được không thêm “s” và không đứng sau a hay an: bạn viết information, không viết an information.
- Muốn nói số lượng chính xác, bạn mượn một đơn vị đứng trước: a piece of advice, a cup of coffee, five kilos of rice.
- Bạn dùng some cho câu khẳng định và lời đề nghị, dùng much cho câu hỏi và câu phủ định, dùng a lot of khi muốn giọng tự nhiên hơn.
- Động từ đi kèm luôn chia số ít, và đại từ thay thế là it.
- Năm nhóm cần thuộc: chất liệu, khái niệm trừu tượng, hiện tượng tự nhiên, môn học, và danh từ gộp cả nhóm đồ vật như furniture, luggage, equipment.
Cách tự tra một từ bất kỳ có đếm được hay không
Bạn không cần thuộc lòng danh sách, bởi vì các từ điển như Cambridge và Oxford có ghi thông tin này. Cách làm nhanh nhất là bạn mở từ điển Cambridge rồi gõ từ đang cần. Cạnh mỗi nghĩa có phần đánh dấu cho biết nghĩa đó đếm được hay không đếm được, và bạn đối chiếu đúng phần đánh dấu ấy mỗi lần tra. Bạn thử tra advice rồi tra tiếp experience và tự so hai kết quả, vì hai từ này hoạt động khác nhau về mặt ngữ pháp và bạn sẽ gặp lại nhiều lần.
Thói quen liếc vào phần đánh dấu ấy mỗi khi tra từ tốn rất ít thời gian, nhưng nhờ nó bạn không bị nhầm ở đúng những từ mà mình hay nhớ sai. Cô Nguyễn Thị Ngọc có 9 năm dạy tiếng Anh và hơn 2.000 giờ dạy trực tuyến. Cô đạt IELTS 7.5 và Thạc sĩ TESOL, hiện dạy cả lớp giao tiếp cho người đi làm lẫn lớp cho người mất gốc. Nếu bạn muốn phần này thành phản xạ khi nói chứ không dừng ở việc chọn đúng trên giấy, bạn hãy đưa từng câu vừa học vào một cuộc nói chuyện thật ngay trong ngày. Bạn có thể xem lộ trình học tiếng Anh cho người mất gốc để biết thứ tự luyện.
Những chỗ người đi làm hay sai với danh từ không đếm được trong tiếng Anh
Vì sao “many informations” và “an advice” đều sai?
Hai câu này sai ở cách viết của chính từ đó chứ không phải ở nghĩa. Information và advice không có dạng số nhiều trong tiếng Anh, cho nên hình thức informations đơn giản là không tồn tại, và many vốn chỉ đi với danh từ số nhiều nên cũng không có chỗ đứng. Mạo từ an cũng vậy: a và an có nghĩa gốc là “một cái”, mà một cái thì phải tách ra đếm được. Muốn diễn đúng ý, bạn viết much information, a lot of information, hoặc a piece of advice khi cần chỉ rõ một lời khuyên cụ thể.
Information là danh từ đếm được hay không đếm được?
Information không đếm được trong mọi nghĩa thông dụng, và bạn có thể tự xác nhận điều đó bằng cách tra từ này trên Cambridge hoặc Oxford rồi xem phần đánh dấu cho biết nghĩa đó đếm được hay không đếm được. Bạn nói some information, much information, a piece of information, và động từ theo sau chia số ít: The information you sent is very helpful. Điều làm nhiều người phân vân là tiếng Việt đếm “hai thông tin” rất tự nhiên, còn tiếng Anh thì phải đi vòng qua two pieces of information.
Coffee, hair và experience vừa đếm được vừa không đếm được thì hiểu thế nào?
Một số danh từ đổi loại theo nghĩa, và bạn phân biệt bằng cách hỏi mình đang nói về chất hay đang nói về từng đơn vị riêng. Coffee chỉ chất lỏng thì không đếm được (I drink coffee every morning). Nhưng khi bạn gọi món ở quán, mỗi cốc là một đơn vị riêng nên người ta nói Two coffees, please. Hair chỉ cả mái tóc thì không đếm được (She has long blonde hair), còn hairs lại chỉ từng sợi rời, thường trong câu kể chuyện tìm thấy sợi tóc trong bát canh. Experience hiểu là kinh nghiệm tích lũy thì không đếm được (three years of experience), còn khi bạn hiểu nó là một trải nghiệm cụ thể đã xảy ra thì từ này đếm được (an unforgettable experience in Japan). Cùng họ với ba từ này là chicken, paper, glass và time, tất cả đều đổi loại theo nghĩa.
News và mathematics có “s” ở cuối, vậy chúng có phải số nhiều không?
Chúng không phải số nhiều, dù hình thức trông y hệt. News, mathematics, physics, economics và politics đều mang sẵn chữ “s” trong chính từ gốc, và bạn không bỏ chữ “s” ấy đi được. Vì chúng không đếm được nên động từ vẫn chia số ít: bạn viết The news is good this morning và Mathematics is my favourite subject, không viết The news are. Cái bẫy nằm ở chỗ mắt ta nhìn thấy “s” rồi tay tự động chia động từ số nhiều. Với riêng nhóm từ này, bạn nên dừng lại một nhịp trước khi chọn is hay are.
Nhớ hết quy tắc rồi mà vào email thật vẫn viết sai?
Đó là chuyện rất thường gặp, bởi vì nhận ra lỗi khi đọc và tránh được lỗi khi tự viết là hai việc khác nhau. Cách bền nhất là bạn chọn ra chừng mười từ hay dùng nhất trong công việc của mình, phần lớn sẽ nằm trong nhóm information, advice, equipment, feedback, work. Bạn tập viết đi viết lại vài câu thật với chúng cho tới khi cái tay không còn tự thêm “s” nữa. Nếu bạn muốn có người chữa ngay tại chỗ mỗi câu mình nói và viết, bạn tham khảo lộ trình học tiếng Anh cho người mất gốc.
Freetalk English và cách học ngữ pháp để dùng được trong công việc
Freetalk English (thương hiệu của Công ty Cổ phần Fungroup) đào tạo tiếng Anh giao tiếp 1-1 online theo mô hình 1 Thầy 1 Trò từ tháng 8/2015 — giáo viên quốc tế (Anh, Mỹ, Philippines) đạt chứng chỉ giảng dạy TESOL và IELTS 7.0+, lộ trình cá nhân hoá 30 phút/ngày, 26.600+ học viên trên toàn quốc đã lựa chọn theo học. Trong chương trình Giao tiếp Công sở, giáo viên đưa những điểm ngữ pháp như danh từ không đếm được thẳng vào email và tình huống họp mà học viên đang làm thật. Câu vừa bật ra là giáo viên chữa ngay tại chỗ.
- 📍 Địa chỉ: B06-L11 Dương Nội, Hà Đông, Hà Nội
- ☎️ Hotline: 0902 466 499
- 💬 Zalo: Freetalk English
- 🌐 Website: freetalkenglish.edu.vn