FreeTalk English
Trang chủ/Từ vựng/Bảng phiên âm tiếng Anh IPA: 44 âm chuẩn quốc tế và cách đọc

Bảng phiên âm tiếng Anh IPA: 44 âm chuẩn quốc tế và cách đọc

Nguyễn Đình Dương
Nguyễn Đình Dương
Từ vựng26/07/2026·22 phút đọc

Bạn vào quán muốn gọi món súp gà, nói “chicken soup” nhưng âm bật ra lại thành “chicken soap”, tức món xà phòng gà. Người phục vụ ngơ ngác, còn bạn không hiểu mình sai ở đâu, bởi trong đầu bạn hai từ đó nghe y hệt nhau. Chuyện này xảy ra vì tiếng Việt không phân biệt cặp âm /uː/ và /əʊ/, cho nên từ lâu tai ta đã gộp hai âm đó làm một.

Bảng phiên âm tiếng Anh IPA là bộ ký hiệu ghi lại cách đọc của từng từ, gồm 44 âm chia thành 20 nguyên âm và 24 phụ âm. Trong 20 nguyên âm ấy có 12 nguyên âm đơn và 8 nguyên âm đôi, còn 24 phụ âm được chia theo việc dây thanh có rung hay không. Đây là hệ ký hiệu mà Cambridge, Oxford và hầu hết từ điển lớn dùng để ghi cách đọc, nên bạn học một lần là tra được cả đời.

Bài này đặt cả 44 âm vào ba bảng tra: nguyên âm đơn, nguyên âm đôi và phụ âm. Mỗi âm đi kèm cách đặt môi, đặt lưỡi và hai từ ví dụ có phiên âm, để bạn vừa nhìn ký hiệu vừa làm theo được ngay. Sau ba bảng, chúng ta bàn tiếp những cặp âm người Việt hay lẫn, quy tắc đọc đuôi -s và -ed, rồi một lộ trình luyện tập vừa sức, kèm bài test nhanh cuối bài để bạn tự kiểm tra. Nếu bạn đang dựng lại nền tiếng Anh từ con số 0, phần phát âm này là chặng đầu tiên trong khóa học tiếng Anh 1 kèm 1 cho người mất gốc.

Bảng phiên âm tiếng Anh IPA và lý do nên bám ký hiệu thay vì phiên ra tiếng Việt

IPA là viết tắt của International Phonetic Alphabet, bảng chữ cái ngữ âm quốc tế. Nguyên tắc của nó rất gọn: một ký hiệu ứng với đúng một âm, không phụ thuộc vào chữ viết. Chữ “a” trong tiếng Anh đọc mỗi nơi một kiểu, nhưng ký hiệu /æ/ thì ở đâu cũng là một âm duy nhất. Nhờ vậy, khi tra Cambridge Dictionary và thấy dòng phiên âm trong hai gạch chéo, bạn biết chính xác phải phát ra âm gì, không cần đoán theo mặt chữ.

Nhiều người tra bảng phiên âm rồi cố tìm một âm tiếng Việt tương đương để “dịch” cách đọc. Cách đó không hẳn sai lúc mới làm quen, nhưng nó là cái bẫy lớn nhất với người Việt học phát âm. Tiếng Việt gần như không bật rõ phụ âm cuối, trong khi tiếng Anh đầy những âm cuối như /t/, /k/, /s/, /d/ mà nuốt đi thì cả từ đổi nghĩa. Từ “like” mất âm /k/ cuối sẽ thành “lie”, còn “cats” mất /s/ thì người nghe không biết bạn đang nói một hay nhiều con mèo.

Cho nên chúng ta dùng IPA đúng như người bản xứ dùng: đọc ký hiệu, đặt môi lưỡi theo ký hiệu, thay vì đi đường vòng qua tiếng Việt. Ba bảng dưới đây lấy phiên âm trực tiếp từ Cambridge Dictionary bản Anh – Anh, tức bộ chuẩn Received Pronunciation. Bạn nên học theo thứ tự nguyên âm đơn, nguyên âm đôi rồi mới tới phụ âm, vì đó là đường đi từ âm dễ cảm nhận khẩu hình nhất đến âm cần kiểm soát lưỡi và hơi nhiều nhất.

Sơ đồ 44 âm IPA gồm 12 nguyên âm đơn, 8 nguyên âm đôi và 24 phụ âm
Ảnh minh họa tạo bằng AI

Bảng 12 nguyên âm đơn trong tiếng Anh

Nguyên âm đơn, tiếng Anh gọi là monophthong, giữ nguyên một khẩu hình từ lúc mở miệng đến lúc dứt âm. Trong 12 nguyên âm đơn có 5 âm dài, được đánh dấu bằng hai chấm sau ký hiệu (/iː/, /uː/, /ɜː/, /ɔː/, /ɑː/), và 7 âm ngắn không có dấu hai chấm. Người Việt hay sai chính ở chỗ này, bởi độ dài trong tiếng Anh làm đổi nghĩa của từ chứ không phải chuyện ngân nga cho hay: “sheep” là con cừu còn “ship” là con tàu.

Âm dài và âm ngắn khác nhau cả ở khẩu hình chứ không riêng thời lượng. Khi phát âm /iː/, môi bạn căng và kéo rộng; khi chuyển sang /ɪ/, môi thả lỏng hẳn và lưỡi tụt xuống thấp hơn. Bạn hãy vừa đọc bảng vừa soi gương, cảm giác cơ mặt sẽ nói cho bạn biết mình làm đúng hay chưa.

Ký hiệu IPACách đặt môi và lưỡiTừ ví dụ
/ɪ/Bạn thả lỏng môi, hé miệng nhỏ, lưỡi nâng vừa phải ở phía trước và cắt âm thật nhanh.ship /ʃɪp/ · kit /kɪt/
/iː/Bạn kéo rộng môi sang hai bên như đang mỉm cười, nâng lưỡi cao và đẩy về phía trước, giữ âm ngân dài hơn hẳn /ɪ/.sheep /ʃiːp/ · key /kiː/
/ʊ/Bạn chúm môi tròn nhẹ nhưng vẫn thả lỏng, lưỡi lùi về sau và nâng vừa phải, âm bật ra ngắn gọn.book /bʊk/ · put /pʊt/
/uː/Bạn chúm môi tròn và đẩy hẳn ra trước như đang huýt sáo, lưỡi lùi sâu về sau và nâng cao, âm kéo dài.food /fuːd/ · blue /bluː/
/e/Bạn mở miệng vừa phải, lưỡi ở phía trước và cao trung bình; âm “e” tiếng Việt là cách hình dung ban đầu, không phải âm tương đương.bed /bed/ · ten /ten/
/ə/Bạn để môi và lưỡi hoàn toàn tự nhiên như lúc nghỉ, lưỡi nằm giữa khoang miệng, âm phát ra nhẹ và mờ vì luôn rơi vào âm tiết không mang trọng âm.about /əˈbaʊt/ · teacher /ˈtiː.tʃər/
/ɜː/Bạn giữ môi hơi bè và không tròn, lưỡi nằm giữa khoang miệng gần đúng vị trí của /ə/, khác ở chỗ âm này ngân dài và luôn nằm trong âm tiết mang trọng âm.bird /bɜːd/ · learn /lɜːn/
/ɒ/Bạn tròn môi, hạ hàm xuống, lưỡi lùi về sau và nằm thấp, âm dứt nhanh.hot /hɒt/ · box /bɒks/
/ɔː/Bạn chúm môi tròn hơn và nhỏ hơn so với /ɒ/, lưỡi lùi sau nhưng nâng cao hơn, âm kéo dài.ball /bɔːl/ · four /fɔːr/
/æ/Bạn mở rộng miệng theo chiều ngang, hạ hàm khá thấp, lưỡi nằm thấp ở phía trước; âm này nghe lơ lửng giữa “e” và “a” tiếng Việt, và đó chỉ là cách hình dung ban đầu.cat /kæt/ · bad /bæd/
/ʌ/Bạn mở miệng vừa phải và thả lỏng môi, lưỡi ở giữa khoang miệng hơi lùi về sau, âm bật ra dứt khoát và ngắn.cup /kʌp/ · love /lʌv/
/ɑː/Bạn mở miệng rộng theo chiều dọc như lúc bác sĩ khám họng, lưỡi hạ thấp và lùi sâu về sau, âm ngân dài.car /kɑːr/ · father /ˈfɑː.ðər/

Bảng 8 nguyên âm đôi và cách trượt giữa hai vị trí

Nguyên âm đôi, tức diphthong, không phải là hai âm đọc rời nhau mà là một âm duy nhất có khẩu hình thay đổi giữa chừng. Bạn bắt đầu ở vị trí của âm thứ nhất rồi trượt dần sang vị trí của âm thứ hai, trong đó phần đầu luôn rõ và dài hơn, phần sau nhẹ và mờ dần đi. Cả 8 nguyên âm đôi đều theo nguyên tắc ấy.

Mẹo luyện đơn giản là bạn đọc thật chậm hai âm thành phần, sau đó rút ngắn dần khoảng cách cho tới khi chúng dính vào nhau thành một hơi liền. Khi trượt, môi và lưỡi phải chuyển động thật, chứ giữ nguyên một khẩu hình từ đầu đến cuối thì âm đôi sẽ dẹt xuống thành âm đơn và người nghe hiểu sang từ khác.

Ký hiệu IPACách đặt môi và lưỡiTừ ví dụ
/eɪ/Bạn mở miệng vừa ở âm /e/, rồi khép dần và kéo môi rộng sang hai bên khi lưỡi trượt lên vị trí của /ɪ/.day /deɪ/ · face /feɪs/
/aɪ/Bạn mở rộng miệng và hạ lưỡi thấp ở âm đầu, sau đó khép hàm lại và nâng lưỡi ra trước để về /ɪ/.my /maɪ/ · five /faɪv/
/ɔɪ/Bạn chúm môi tròn ở âm /ɔː/, rồi dẹt môi và kéo rộng ra khi lưỡi trượt lên trước tới /ɪ/.boy /bɔɪ/ · coin /kɔɪn/
/əʊ/Bạn xuất phát ở âm trung tính /ə/ với môi thả lỏng, sau đó chúm tròn môi dần lại khi lưỡi lùi về sau tới /ʊ/.go /ɡəʊ/ · home /həʊm/
/aʊ/Bạn mở rộng miệng và hạ lưỡi ở âm đầu, rồi thu môi tròn lại khi trượt về /ʊ/.now /naʊ/ · house /haʊs/
/ɪə/Bạn bắt đầu ở /ɪ/ với môi hơi kéo rộng, sau đó hạ hàm và thả lỏng tất cả để về âm /ə/.here /hɪər/ · near /nɪər/
/eə/Bạn mở miệng vừa ở /e/, rồi hạ hàm thêm một chút và thả lỏng môi lưỡi để trượt về /ə/.hair /heər/ · chair /tʃeər/
/ʊə/Bạn chúm môi tròn ở /ʊ/, sau đó mở môi ra và thả lỏng lưỡi về vị trí trung tính của /ə/.tour /tʊər/ · pure /pjʊər/

Bảng 24 phụ âm chia theo vô thanh và hữu thanh

Hầu hết 24 phụ âm được sinh ra khi luồng hơi bị môi, lưỡi hoặc răng cản lại; riêng /h/ chỉ bị thu hẹp ở thanh quản. Điểm phân loại quan trọng nhất là dây thanh: âm hữu thanh làm dây thanh rung, âm vô thanh thì không. Bạn hãy đặt hai ngón tay lên cổ họng rồi đọc /s/ và /z/ nối tiếp nhau; ở /z/ bạn thấy cổ họng rung lên, còn ở /s/ thì chỉ có tiếng hơi xì ra. Cách kiểm tra này áp dụng được cho mọi cặp phụ âm trong bảng.

Nhiều phụ âm đi thành cặp cùng khẩu hình, chỉ khác nhau ở chỗ có rung hay không: /p/ với /b/, /t/ với /d/, /k/ với /ɡ/, /f/ với /v/, /θ/ với /ð/, /s/ với /z/, /ʃ/ với /ʒ/, /tʃ/ với /dʒ/. Học theo cặp như vậy nhẹ đầu hơn học rời từng âm, vì bạn chỉ cần nhớ một khẩu hình cho hai ký hiệu.

Ký hiệu IPACách đặt môi và lưỡiTừ ví dụ
/p/Bạn mím chặt hai môi để chặn hơi rồi bật mở đột ngột, dây thanh không rung và luồng hơi thoát ra khá mạnh.pen /pen/ · happy /ˈhæp.i/
/b/Bạn mím hai môi rồi bật mở giống /p/, nhưng dây thanh rung và hơi thoát ra nhẹ hơn.big /bɪɡ/ · bad /bæd/
/t/Bạn đặt đầu lưỡi chạm lợi ngay sau răng cửa trên để chặn hơi, rồi hạ lưỡi cho hơi bật ra, dây thanh không rung.tea /tiː/ · ten /ten/
/d/Bạn đặt đầu lưỡi chạm lợi giống /t/ rồi nhả hơi, lần này dây thanh rung.door /dɔːr/ · red /red/
/k/Bạn nâng cuống lưỡi chạm ngạc mềm ở phía trong để chặn hơi, rồi hạ xuống cho hơi bật ra, dây thanh không rung.cat /kæt/ · school /skuːl/
/ɡ/Bạn nâng cuống lưỡi chạm ngạc mềm giống /k/ rồi nhả hơi, dây thanh rung.go /ɡəʊ/ · big /bɪɡ/
/f/Bạn để răng cửa trên chạm nhẹ lên môi dưới rồi đẩy hơi qua khe hẹp đó, dây thanh không rung.fish /fɪʃ/ · coffee /ˈkɒf.i/
/v/Bạn giữ răng trên chạm môi dưới giống /f/ và đẩy hơi qua, dây thanh rung nên bạn thấy môi tê nhẹ.very /ˈver.i/ · love /lʌv/
/θ/Bạn đặt đầu lưỡi thò ra nằm nhẹ giữa hai hàm răng rồi thổi hơi qua khe, dây thanh không rung.think /θɪŋk/ · three /θriː/
/ð/Bạn đặt đầu lưỡi giữa hai hàm răng giống /θ/ rồi đẩy hơi ra, dây thanh rung.this /ðɪs/ · mother /ˈmʌð.ər/
/s/Bạn nâng đầu lưỡi gần chạm lợi trên, chừa một rãnh nhỏ ở giữa cho hơi rít qua, môi hơi kéo rộng và dây thanh không rung.sun /sʌn/ · kiss /kɪs/
/z/Bạn giữ nguyên khẩu hình của /s/ và cho dây thanh rung, âm nghe như tiếng ong bay.zero /ˈzɪə.rəʊ/ · nose /nəʊz/
/ʃ/Bạn lùi lưỡi ra sau một chút so với /s/, chúm môi tròn nhẹ và đẩy hơi ra trên diện rộng, dây thanh không rung.she /ʃiː/ · fish /fɪʃ/
/ʒ/Bạn giữ nguyên khẩu hình của /ʃ/ và cho dây thanh rung.vision /ˈvɪʒ.ən/ · measure /ˈmeʒ.ər/
/h/Bạn mở miệng sẵn theo nguyên âm đứng sau và đẩy một luồng hơi tự do từ cổ họng ra, dây thanh không rung.hello /heˈləʊ/ · house /haʊs/
/tʃ/Bạn chặn hơi bằng đầu lưỡi chạm lợi rồi nhả ra thành tiếng xát của /ʃ/, môi chúm nhẹ và dây thanh không rung.chair /tʃeər/ · watch /wɒtʃ/
/dʒ/Bạn làm giống hệt /tʃ/ về khẩu hình và cho dây thanh rung.jump /dʒʌmp/ · bridge /brɪdʒ/
/m/Bạn khép hai môi lại, đẩy toàn bộ hơi thoát qua mũi, dây thanh rung.man /mæn/ · come /kʌm/
/n/Bạn đặt đầu lưỡi chạm lợi trên để chặn đường miệng, hơi thoát qua mũi và dây thanh rung.no /nəʊ/ · sun /sʌn/
/ŋ/Bạn nâng cuống lưỡi chạm ngạc mềm và giữ nguyên ở đó, miệng vẫn hé, hơi thoát qua mũi và dây thanh rung.sing /sɪŋ/ · thank /θæŋk/
/l/Bạn đặt đầu lưỡi chạm lợi trên và để hơi thoát qua hai bên lưỡi, dây thanh rung.love /lʌv/ · ball /bɔːl/
/r/Bạn cong nhẹ đầu lưỡi lên và lùi về sau nhưng không cho chạm vào đâu cả, môi hơi tròn và dây thanh rung.red /red/ · sorry /ˈsɒr.i/
/w/Bạn chúm môi tròn thật mạnh rồi mở bung ra để lướt sang nguyên âm kế tiếp, dây thanh rung.we /wiː/ · watch /wɒtʃ/
/j/Bạn nâng lưỡi cao gần ngạc cứng như sắp nói /iː/ rồi lướt nhanh sang nguyên âm phía sau, dây thanh rung.yes /jes/ · you /juː/

Chữ r cuối từ trong phiên âm Cambridge

Bạn hãy để ý những dòng như car /kɑːr/, here /hɪər/ hay teacher /ˈtiː.tʃər/ trong ba bảng trên. Chữ /r/ đứng cuối ấy dễ làm người học tưởng rằng lần nào đọc cũng phải bật ra một âm “rờ” rõ ràng. Thực tế trong giọng Anh – Anh, âm /r/ cuối từ chỉ được phát ra khi từ ngay sau đó bắt đầu bằng một nguyên âm; hiện tượng này gọi là linking r, tức âm /r/ nối.

Bạn hãy so hai cặp câu dưới đây để thấy âm /r/ xuất hiện rồi biến mất thế nào:

  • my car is old: có /r/ nối, vì “is” mở đầu bằng nguyên âm.
  • my car stopped: mất /r/, bạn chỉ còn nghe /kɑː/ vì “stopped” mở đầu bằng phụ âm.
  • here it is: có /r/ nối sang “it”.
  • here we go: mất /r/ vì “we” mở đầu bằng phụ âm /w/.

Người nói giọng Mỹ giữ âm /r/ trong mọi trường hợp, cho nên nếu bạn theo giọng Mỹ thì cứ bật /r/ đều đặn cũng không sai.

Cambridge vẫn ghi /r/ trong phiên âm để bạn biết từ đó có tiềm năng nối âm, và bảng trong bài giữ nguyên cách ghi ấy. Bạn chỉ cần nhớ một điều: ký hiệu có /r/ nghĩa là “được phép nối”, không có nghĩa là “bắt buộc bật”.

Bốn cặp âm tiếng Anh người Việt hay nhầm lẫn kèm cách đặt môi lưỡi
Ảnh minh họa tạo bằng AI

Các cặp âm người Việt hay nhầm lẫn

Bảng 44 âm nhìn thì dài, nhưng phần thật sự gây hiểu nhầm khi bạn nói chuyện lại tập trung vào vài cặp. Lý do rất dễ hiểu: tiếng mẹ đẻ của chúng ta không phân biệt những cặp đó, nên từ nhỏ tai ta đã quen gộp chúng làm một. Bạn hãy đọc to từng cặp dưới đây và nghe xem hai từ trong cặp có khác nhau thật không.

  • /iː/ và /ɪ/: sheep /ʃiːp/ là con cừu, còn ship /ʃɪp/ là con tàu. Âm /iː/ dài và căng môi, còn /ɪ/ ngắn, thả lỏng và lưỡi thấp hơn.
  • /æ/ và /ʌ/: cat /kæt/ là con mèo, còn cut /kʌt/ là cắt. Ở /æ/ bạn mở miệng rộng theo chiều ngang và hạ hàm, còn ở /ʌ/ miệng mở vừa phải với môi thả lỏng.
  • /θ/ và /t/: three /θriː/ là số ba, còn tree /triː/ là cái cây. Âm /θ/ buộc đầu lưỡi thò ra giữa hai răng và thổi hơi, còn /t/ thì lưỡi chạm lợi rồi bật.
  • /s/ và /ʃ/: sea /siː/ là biển, còn she /ʃiː/ là cô ấy. Ở /s/ hơi rít qua một rãnh hẹp với môi kéo ngang, còn ở /ʃ/ lưỡi lùi sau và môi chúm tròn nhẹ.

Mỗi cặp âm bạn tách được là thêm một loạt từ vựng nói ra người khác nghe đúng ngay lần đầu. Cách luyện hiệu quả nhất là đọc hai từ đối lập liền nhau nhiều lần trong ngày, vì tai chỉ nhận ra khác biệt khi được nghe hai âm đặt cạnh nhau, chứ nghe rời từng âm thì rất khó phân biệt.

Quy tắc phát âm đuôi -s, -es và đuôi -ed

Hai cái đuôi này xuất hiện trong hầu hết câu tiếng Anh bạn nói ra, mà quy tắc của chúng lại thuộc loại cứng, không có ngoại lệ đáng kể. Nắm được chúng, bạn sửa được một lỗi rất phổ biến là bỏ luôn âm cuối cho tiện miệng. Điều quyết định cách đọc luôn là âm cuối của từ gốc, không phải chữ cái cuối.

Đuôi -s và -es của danh từ số nhiều và động từ ngôi thứ ba số ít đọc theo ba trường hợp:

  • Đọc là /s/ khi từ gốc kết thúc bằng âm vô thanh /p/, /t/, /k/, /f/, /θ/, ví dụ books, cats, cups.
  • Đọc là /z/ khi từ gốc kết thúc bằng âm hữu thanh hoặc nguyên âm, ví dụ loves, days, boys.
  • Đọc là /ɪz/ khi từ gốc kết thúc bằng các âm gió /s/, /z/, /ʃ/, /ʒ/, /tʃ/, /dʒ/, ví dụ kisses, watches, bridges.

Đuôi -ed của động từ quá khứ và phân từ hai cũng chia làm ba trường hợp theo cùng logic:

  • Đọc là /t/ khi động từ gốc kết thúc bằng âm vô thanh /p/, /k/, /f/, /θ/, /s/, /ʃ/, /tʃ/, ví dụ watched, kissed, stopped.
  • Đọc là /d/ khi động từ gốc kết thúc bằng âm hữu thanh hoặc nguyên âm, ví dụ loved, played, opened.
  • Đọc là /ɪd/ khi động từ gốc kết thúc bằng âm /t/ hoặc âm /d/, ví dụ wanted, needed, decided.

Bạn để ý là quy tắc chỉ nghe theo tai chứ không nhìn mặt chữ. Từ “watched” viết có “ch” nhưng âm cuối của gốc là /tʃ/ vô thanh nên đuôi đọc /t/, còn “needed” có âm cuối /d/ nên phải thêm một âm tiết /ɪd/. Đuôi -ed đi kèm với các thì quá khứ mà bạn dùng hằng ngày, chẳng hạn khi kể một việc đang diễn ra thì bị cắt ngang trong thì quá khứ tiếp diễn. Đuôi -ing thì ngược lại, không đổi cách đọc theo từ gốc.

Lộ trình luyện 44 âm cho người mới bắt đầu

Bạn không cần học thuộc cả bảng trong một tuần, và thật ra cũng không nên. Phát âm là chuyện của cơ miệng, mà cơ thì cần thời gian để quen chuyển động mới, giống như tập một động tác thể thao vậy. Mỗi ngày bạn học 3 đến 5 âm, luyện 15 đến 20 phút, thì khoảng hai tháng là đi hết 44 âm với chất lượng dùng được.

Ba chặng dưới đây đi theo đúng thứ tự từ dễ đến khó của bảng 44 âm, bạn cứ xong chặng trước rồi mới sang chặng sau.

ChặngThời gianViệc cần làm
Chặng 1: 12 nguyên âm đơnKhoảng 2 tuầnBạn nghe từ điển đọc mẫu rồi nhại lại, soi gương kiểm tra khẩu hình và tập trung vào các cặp dài – ngắn như /iː/ với /ɪ/.
Chặng 2: 8 nguyên âm đôiKhoảng 2 đến 3 tuầnBạn luyện phần trượt giữa hai vị trí của môi và lưỡi, đồng thời đọc các cặp từ đối lập như so /səʊ/ với saw /sɔː/, để cảm nhận nguyên âm đôi có trượt khẩu hình còn nguyên âm đơn thì giữ nguyên khẩu hình.
Chặng 3: 24 phụ âmKhoảng 3 đến 4 tuầnBạn chú ý các âm cuối vốn hay bị nuốt và các âm tiếng Việt không có như /θ/, /ð/, /ʒ/, sau đó ghép vào câu hoàn chỉnh.

Có một việc nhỏ mà hiệu quả rất lớn: bạn ghi âm chính mình rồi nghe lại và so với bản đọc mẫu trong từ điển. Lúc đang nói, tai bạn nghe giọng mình qua xương sọ nên nghe khác hẳn với âm thật phát ra ngoài, vì vậy cảm giác “mình đọc đúng rồi” thường không đáng tin. Bản ghi âm mới cho bạn biết sự thật, và bạn hãy tra thêm bảng ký hiệu chính thức tại bảng IPA của Cambridge khi cần đối chiếu.

Cuối cùng, bạn đừng dừng ở mức đọc rời từng âm. Âm chỉ thành phản xạ khi nó nằm trong từ, từ nằm trong câu, và câu được nói với một người đang thật sự nghe bạn. Cho nên sau mỗi chặng, bạn hãy lấy chính những từ vừa luyện mà đặt câu về công việc và cuộc sống của mình, rồi nói to lên.

Ghi nhớ nhanh về bảng phiên âm tiếng Anh IPA

  • Bảng IPA tiếng Anh gồm 44 âm: 20 nguyên âm (12 nguyên âm đơn và 8 nguyên âm đôi) cùng 24 phụ âm.
  • Dấu hai chấm sau ký hiệu báo nguyên âm dài, gồm 5 âm /iː/, /uː/, /ɜː/, /ɔː/, /ɑː/; âm dài và âm ngắn khác nhau cả về độ dài lẫn khẩu hình.
  • Nguyên âm đôi là một âm có khẩu hình trượt từ vị trí này sang vị trí kia, phần đầu rõ và dài hơn phần sau.
  • Phụ âm phân biệt bằng dây thanh: bạn đặt tay lên cổ họng, thấy rung là âm hữu thanh, không rung là âm vô thanh.
  • Âm /r/ cuối từ trong phiên âm Anh – Anh chỉ phát ra khi từ sau bắt đầu bằng nguyên âm, gọi là linking r.
  • Đuôi -s đọc /s/ sau âm vô thanh, /z/ sau âm hữu thanh và nguyên âm, /ɪz/ sau các âm gió.
  • Đuôi -ed đọc /t/ sau âm vô thanh, /d/ sau âm hữu thanh và nguyên âm, /ɪd/ sau /t/ và /d/.

Những thắc mắc thường gặp khi học bảng phiên âm IPA

Học hết 44 âm mất bao lâu?

Khoảng hai tháng nếu bạn luyện đều 15 đến 20 phút mỗi ngày, mỗi ngày 3 đến 5 âm. Con số này tính cả thời gian quay lại ôn những âm cũ, bởi cơ miệng cần được nhắc lại nhiều lần mới giữ được khẩu hình mới. Bạn học dồn 20 âm trong một buổi thì hôm sau quên gần hết, đó là chuyện đã xảy ra với rất nhiều người.

Nên học giọng Anh – Anh hay giọng Anh – Mỹ?

Bạn chọn một giọng và theo cho nhất quán, còn chọn giọng nào thì tùy mục đích của bạn. Bảng trong bài này theo giọng Anh – Anh của Cambridge, hệ chuẩn mà các kỳ thi Cambridge và IELTS dùng làm tham chiếu. Nếu bạn làm việc nhiều với đối tác Mỹ thì học giọng Mỹ tiện hơn, và khác biệt lớn nhất bạn cần nhớ là âm /r/ cuối từ cùng vài nguyên âm như trong “dance” hay “hot”.

Không nhớ hết ký hiệu thì có tra từ điển được không?

Bạn tra được, và trên thực tế đó chính là cách dùng bảng IPA. Không ai học thuộc lòng 44 ký hiệu rồi mới bắt đầu đọc từ; bạn tra từ nào thì nhìn phiên âm từ đó, gặp lại vài lần là ký hiệu tự vào đầu. Việc cần làm ngay từ đầu chỉ là nhận ra ký hiệu nào ứng với âm nào khi nghe, còn viết ra được thì không bắt buộc.

Vì sao đọc đúng từng âm rồi mà nói cả câu người nghe vẫn không hiểu?

Vì một câu tiếng Anh còn có trọng âm, nhịp và nối âm, ba thứ không nằm trong bảng 44 âm. Khi nói, người bản xứ nhấn mạnh những từ mang nghĩa và lướt qua các từ chức năng, cho nên câu có chỗ nhô lên chỗ trũng xuống chứ không đều đặn từng tiếng như tiếng Việt. Bạn đọc đúng từng âm là đã xong phần nền; phần nhịp điệu thì phải luyện bằng cách nói cả câu và nói với người khác.

Freetalk English và cách luyện phát âm để nói được

Freetalk English (thương hiệu của Công ty Cổ phần Fungroup) dạy tiếng Anh giao tiếp 1-1 trực tuyến theo mô hình 1 Thầy 1 Trò từ tháng 8/2015, với hơn 250 giáo viên quốc tế đạt chứng chỉ TESOL và IELTS 7.0+. Tại đây, 44 âm trong bảng phiên âm tiếng Anh IPA được luyện ngay trong hội thoại của khóa 1 kèm 1 cho người mất gốc: giáo viên nghe bạn nói, chỉ đúng âm bạn đang đặt sai môi hoặc sai lưỡi và sửa tại chỗ, thay vì để bạn tự đoán qua bản ghi âm. Chương trình cá nhân hóa 30 phút mỗi ngày đến nay đã dạy hơn 26.600 học viên trên toàn quốc. Website: freetalkenglish.edu.vn. Hotline và Zalo: 0902 466 499.

Tiếng Anh cơ bản liên quan

Bài test nhanh: nhận diện 44 âm trong bảng phiên âm IPA

Gồm 10 câu trắc nghiệm. Bạn hãy chọn đáp án đúng cho mỗi câu rồi bấm “Nộp bài”.

Câu 1Bạn hãy chọn phiên âm đúng của từ "sheep" (con cừu).
Câu 2Bạn hãy chọn từ chứa nguyên âm ngắn /ɪ/.
Câu 3Bạn hãy chọn từ chứa nguyên âm /ʌ/.
Câu 4Bạn hãy chọn từ bắt đầu bằng âm hữu thanh /ð/.
Câu 5Bạn hãy chọn từ chứa âm /ʃ/.
Câu 6Theo phiên âm Anh - Anh của Cambridge, ba trong bốn từ dưới đây có cùng một nguyên âm được nhấn. Bạn hãy chọn từ có nguyên âm khác ba từ còn lại.
Câu 7Đuôi -s trong từ "books" được đọc là âm nào?
Câu 8Đuôi -es trong từ "watches" được đọc là âm nào?
Câu 9Đuôi -ed trong từ "watched" được đọc là âm nào?
Câu 10Từ "school" có phiên âm là /skuːl/. Bạn hãy cho biết từ này gồm bao nhiêu âm.

Bạn có thể làm lại nhiều lần. Bài test này không lưu điểm.

Nguyễn Đình Dương
Tác giả

Nguyễn Đình Dương

Nhà sáng lập & CEO FreeTalk English. Hơn 10 năm xây dựng phương pháp học tiếng Anh phản xạ cho người đi làm và trẻ em, đã dạy hơn 26.600 học viên. Xem giới thiệu →

BÀI VIẾT LIÊN QUAN